26/08/2026
16:45
Hãy Sống Và Làm Việc Như Dòng Nước
Một cuộc trò chuyện sâu sắc về “đạo của nước” giữa LOXO và GS. Chung Hoàng Chương – người đã dành gần 20 năm nghiên cứu về dòng sông Mekong. Trước đây, ông từng có 35 năm giảng dạy tại một số trường Đại học tại California, Hoa Kỳ, đồng thời là người sáng lập Trung tâm Nghiên cứu người Mỹ gốc Việt. Ông hiện là chuyên gia của Tổ chức phi chính phủ International Rivers và là nhà nghiên cứu độc lập tại Việt Nam.
Hạ nguồn sông Mekong – Việt Nam có lợi thế nhưng chịu nhiều tổn thương
Dương Đỗ: Thưa GS. Chung Hoàng Chương, con rất trân trọng cơ duyên được ngồi trò chuyện cùng thầy hôm nay. Bản thân con là một người rất yêu thích các dòng nước, từ những dòng chảy nhỏ bên đường, đến những giọt mưa hay những con sông lớn. Con cảm thấy mình học được nhiều điều từ việc quan sát nước và tự nhiên. Thầy đã dành phần lớn cuộc đời để nghiên cứu về sông và nước. Vậy từ cơ duyên nào đã đưa thầy đến với hành trình gắn bó với dòng nước?
Chung Hoàng Chương: Rất vui vì chúng ta có thể trò chuyện cởi mở như những người bạn đồng hành. Tôi sinh ra ở Cai Lậy, Tiền Giang, thuộc Đồng bằng sông Cửu Long. Từ nhỏ, tôi đã sớm theo gia đình cha mẹ lên Sài Gòn sinh sống.
Cha nuôi của tôi là một nhiếp ảnh gia có tiếng. Ông chu du khắp miền Nam, chụp ảnh và kinh doanh thiết bị nhiếp ảnh. Vì vậy mà từ nhỏ, tôi đã được tiếp xúc với phim ảnh, kỹ thuật tráng rửa và theo chân xe giao hàng đi khắp các nẻo đường Sài Gòn. Lớn lên, tôi theo học chương trình giáo dục của Pháp, rồi sang Pháp và Châu Âu vào những năm 1960. Sau đó, tôi có cơ duyên được bảo lãnh sang Mỹ vào năm 1968. Đó là thời điểm nước Mỹ đầy biến động, phong trào phản chiến Việt Nam, phong trào đòi quyền bình đẳng cho người da màu…
Nhìn thấy cuộc chiến phi nghĩa trên quê hương Việt Nam, tôi không khỏi cảm thấy xót xa. Dù đã trở thành Giáo sư và giảng dạy tại các đại học lớn ở Mỹ, tôi luôn đau đáu hướng về cội nguồn.
GS. Chung Hoàng Chương tại LOXO Podcast.
Năm 1986 là thời kỳ Việt Nam đổi mới và mở cửa, tôi mới có cơ hội trở về. Và chính lúc đặt chân lên mảnh đất Đồng bằng sông Cửu Long, tôi mới thực sự hiểu về văn minh lúa nước, sự trù phú của vùng đất Nam Bộ và cũng là lúc tôi bắt đầu hành trình với nước. Đến năm 2008, tôi may mắn nhận được nghiên cứu về văn hóa lưu vực sông Mekong. Những chuyến thực địa dọc theo dòng Mekong đưa tôi qua Vân Nam, châu tự trị Tây Song Bản Nạp, Lào, vùng Tam giác vàng, Thái Lan, Campuchia, những phụ lưu của Mekong, quan sát nhiều nhánh sông xuyên ngang đồng bằng sông Cửu Long…, tất cả đã cho tôi cái nhìn xác thực về dòng sông cũng như người bản xứ. Với tôi dòng sông chính là “vân tay” của vùng đất. Nếu mỗi con người có một mã định danh riêng, thì mỗi khúc sông Mekong cũng có một bản sắc độc bản. Việc hiểu dòng sông vì thế không thể chỉ dừng lại ở việc đo lưu lượng nước hay tính toán công suất thủy điện, mà phải một cuộc giải mã những cộng đồng đã gắn bó với nó hàng ngàn đời…
Dương Đỗ: Khi nhìn vào địa lý Việt Nam, con thấy chúng ta như một bán đảo uốn mình vươn ra đại dương. Chúng ta hứng trọn nguồn năng lượng thiên nhiên, giao thoa văn hóa, và đồng thời cũng nằm ở cuối hạ lưu của những con sông lớn nhất thế giới. Theo thầy, vị trí hạ nguồn này là lợi thế hay yếu điểm của Việt Nam?
Chung Hoàng Chương: Nếu chúng ta chỉ nhìn Việt Nam qua ranh giới đất liền hay một con sông, một bờ biển nhỏ, thì góc nhìn sẽ rất hẹp. Khi dùng ảnh vệ tinh quan sát toàn bộ khu vực, tôi nhìn thấy Việt Nam nằm trong một “cái hồ khổng lồ”, tức vùng Biển Đông và Nam Hải. Cái hồ này trải dài từ Cà Mau xuống Singapore, qua Indonesia, Philippines, ngược lên Đài Loan. Nhìn như vậy ta sẽ thấy Việt Nam có ưu thế vượt trội. Chúng ta vươn ra biển, giáp cả Biển Đông lẫn Biển Tây (Vịnh Thái Lan), sở hữu vô số đảo nhỏ (Côn Đảo, Phú Quốc, Thổ Chu…). Tuy nhiên, về mặt lịch sử và tư duy, chúng ta lại hay bị “cột” vào đất liền, bị ép giữa hai khối văn hóa – chính trị khổng lồ là Ấn Độ và Trung Hoa mà quên mất góc nhìn biển đảo.
Về vấn đề hạ nguồn, đúng là Việt Nam ở vị thế cuối dòng của sông Cửu Long (Mekong). Điều này mang lại sự phù sa trù phú nhưng cũng khiến chúng ta có nhiều tổn thương. Trong thập niên 1960-1970, con người mang tư tưởng “định thiên” (chinh phục tự nhiên), coi việc nước sông chảy ra biển là lãng phí. Họ chặn dòng làm hàng loạt đập thủy điện khổng lồ (như 12 đập lớn ở Vân Nam – Trung Quốc). Điều này làm thay đổi cơ học vật lý của trái đất, chặn đứng dòng lưu chuyển của phù sa và sinh vật. Mặt khác, dòng Mekong sống nhờ vào hiện tượng gió mùa và sự tan chảy từ khối băng Himalaya. Hiện nay, đập thủy điện chăng lưới, biến đổi khí hậu làm tan băng nhanh hơn, khiến hạ nguồn đe dọa bởi hạn mặn và thiếu nước ngọt nghiêm trọng.
Dương Đỗ: Vậy trước sự kiểm soát từ thượng nguồn và tác động của biến đổi khí hậu, chúng ta không thể chỉ phụ thuộc vào lời hứa hay cam kết ngoại giao của các nước khác. Việt Nam cần phát huy nội lực như thế nào để vận dụng sức mạnh của nước?
Chung Hoàng Chương: Về việc này, tôi đề xuất mô hình 3D để phát triển nội lực.
Thứ nhất là Đầu tư: Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ thuế, vốn, tài chính cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) trong lĩnh vực nông nghiệp, sinh thái; giúp người nông dân chuyển đổi mô hình sản xuất thích ứng.
Thứ hai là Đào tạo: Thành lập ngành học mới là Mekong Học (Mekong Studies) hoặc Nghiên cứu về Nước tại các trường trọng điểm như Đại học Cần Thơ, Trà Vinh, An Giang. Chúng ta cần đào tạo ra các chuyên gia thực hành 2 năm hiểu sâu về sinh thái lúa, đất bãi bồi thay vì chỉ tập trung vào lý thuyết cử nhân/thạc sĩ chung chung.
Thứ ba là Đổi mới: Từ bỏ các công trình đập bê tông ngăn mặn cứng nhắc, chuyển sang Giải pháp dựa vào Thiên nhiên (Nature-based Solutions). Ví dụ như mô hình trồng lúa mùa 1 vụ kết hợp nuôi thủy sản của nông dân Tứ Giác Long Xuyên; ứng dụng mã QR, máy bay không người lái hay nông nghiệp sinh thái ngập nước ở các vùng Trà Sư, Tràm Chim…
Đồng thời, về mặt ngoại giao, Việt Nam phải thúc đẩy hợp tác song phương chặt chẽ với Campuchia, tạo thành một vùng kinh tế chung. Khái niệm Đồng bằng Sông Cửu Long phải bao hàm cả không gian sinh thái Campuchia chứ không thể cắt đứt tại ranh giới Vĩnh Xương hay Hồng Ngự.
Đạo của nước – Thức tỉnh và khiêm nhường
Dương Đỗ: Thưa thầy, nếu chỉ nghiên cứu nước dưới góc độ lý tính (vật lý, hóa học, thủy lợi), chúng ta mới chỉ chạm vào phần bề nổi. Con nghĩ nước chứa đựng một kho tàng tri thức vô hình về mặt triết học và tinh thần. Thầy đánh giá thế nào về khía cạnh này?
Chung Hoàng Chương: Rất chính xác. Đó là lý do gần đây tôi và các đồng nghiệp tại Mỹ đang tập trung vào một hướng nghiên cứu mới gọi là “Thủy lợi Nhân văn”, nhằm nhìn nhận nguồn nước qua lăng kính con người, xã hội và văn hóa. Chẳng hạn, ở góc nhìn về giới và di dân, câu hỏi đặt ra là “Tại sao lại có hiện tượng di dân của nữ giới ở ĐBSCL?”. Người phụ nữ miền Tây mất quá nhiều thời gian cho các công việc gắn với nước (gánh nước, rửa bát, giặt giũ, đưa con qua sông bằng ghe đò) đến mức không còn thời gian để đi học, nâng cao trình độ. Trình độ học vấn của vùng vì thế thấp hơn mức trung bình cả nước… Hay về tín ngưỡng và sự cân bằng, ở vùng Thất Sơn (An Giang) hay Bến Tre, các phong trào tâm linh như Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Đạo Cao Đài… đã dùng văn thơ lục bát bình dị để dạy con người cách sống hài hòa với thiên nhiên, cứu nhân độ thế, tạo ra sự cân bằng xã hội trong những thời kỳ khủng hoảng.

GS. Chung Hoàng Chương tại LOXO Podcast.
Văn hóa Việt Nam là văn hóa thích nghi. Trong khi các nước phương Tây dùng từ “land” (đất) để gọi quốc gia như: England, Switzerland, Netherlands… Thì người Việt dùng từ “nước” để chỉ tổ quốc: Đất nước, Nhà nước, Yêu nước, Cõi nước… Nước có tính chất mềm dẻo, dung hợp. Nước chảy đến đâu mang sự sống đến đó. Khi gặp vật cản, nước lách qua; khi gặp bãi bồi, nước lắng lại để bồi đắp phù sa. Người Việt Nam sở dĩ vượt qua hàng trăm năm thuộc địa, 5 cuộc chiến tranh lớn trong một thế kỷ mà vẫn giữ được hồn cốt là nhờ cái tính cách của dòng nước: linh hoạt, uyển chuyển, mạnh mẽ và dễ thích nghi.
Dương Đỗ: Con suy nghĩ rất nhiều về việc thành lập những “Học viện về nước”. Nếu một học viện chỉ dạy kỹ thuật trị thủy, đập mặn, khai thác tài nguyên thì chúng ta vẫn đang đi theo lối mòn của khoa học – nơi con người tự cho mình là trung tâm và tiến hóa, nhưng thực chất lại đang tàn phá tự nhiên và đi giật lùi. Con tin rằng “Học viện về nước” cần có một nhánh quan trọng về “Đạo của nước”. Nước cần dạy cho con người sự tỉnh thức, sự khiêm nhường và nhận thức rõ vị trí của mình trong vũ trụ. Chỉ khi con người thay đổi nhận thức tinh thần, chúng ta mới ngừng phá hoại và biết cách đối xử tử tế với tự nhiên lẫn đồng loại. Thầy nghĩ sao về điều này?
Chung Hoàng Chương: Tôi hoàn toàn đồng ý và rất ủng hộ định hướng này của em. Học về nước chính là “bài học cả đời” và học sự linh hoạt chuyển hóa. Nước tồn tại ở cả 3 thể: Lỏng (dòng chảy nuôi dưỡng), Khí (hơi nước bốc lên cao thành mây), và Rắn (băng tuyết kiên cố). Ở dạng lỏng, nước không cố chấp giữ một hình dạng cố định và có sức mạnh vô biên. Con người khi học được “Đạo của nước” sẽ biết cách thoát khỏi sự đóng khung tư duy. Nhiều người học rất nhiều kiến thức khoa học nhưng lại bị chính kiến thức đó trói buộc, trở nên cứng nhắc và kiêu ngạo. Khi biết khiêm nhường như nước, để luôn chảy về chỗ thấp nhất nhưng lại làm tươi tốt muôn loài, con người mới đạt đến sự minh mẫn và an lạc thực sự.
Dương Đỗ: Nếu tự hình dung mình là một loại nước và một loài sinh vật trong hệ sinh thái này, thầy nghĩ mình là gì?
Chung Hoàng Chương: (Cười) Nếu là nước, tôi thấy mình là nước lợ. Vì nước lợ là sự giao thoa kỳ diệu giữa nước mặn của biển cả và nước ngọt của đồng bằng. Nó không thuần túy mặn, không thuần túy ngọt, biến đổi theo từng mùa duyên hải. Nó đại diện cho sự hỗn dụng, dung hợp văn hóa, giống như hành trình cuộc đời tôi: mang căn tính Việt Nam, hấp thụ giáo dục Pháp, trải nghiệm tri thức Mỹ và quay về gắn bó với đồng bằng.
Còn nếu là một loài cây hay sinh vật, tôi thấy mình giống như loài cỏ năng hoặc một loài sinh vật lưỡng cư. Loài cỏ năng sống được cả dưới nước lẫn trên bờ, dù nước nổi hay nước rút đều bám rễ bền bỉ. Giống như những người dân miền Tây, sống cả đời trên ghe thuyền qua 2-3 thế hệ, linh hoạt và kiên cường trước mọi biến thiên của dòng đời.
Dương Đỗ: Nếu chỉ dành một lời nhắn nhủ duy nhất cho thế hệ trẻ, những người đang nắm giữ tương lai của đất nước, thầy sẽ nhắn điều gì?
Chung Hoàng Chương: Tôi muốn nhắn các em là hãy sống và làm việc như dòng nước, đó là giữ cho mình tư duy đa dạng, tấm lòng cởi mở và tinh thần học tập suốt đời. Đừng bao giờ rời xa sách vở, tin tức và tri thức nhân loại. Nhưng đồng thời, hãy uyển chuyển như nước: biết thay đổi, biết chuyển hóa, không đóng khung bản thân vào những định kiến cứng nhắc. Khi tâm trí chúng ta rộng mở và linh hoạt như dòng nước, không khó khăn hay biến động nào của thời đại có thể quật ngã được chúng ta.
Dương Đỗ: Cảm ơn Giáo sư về cuộc đối thoại vô cùng sâu sắc và tràn đầy cảm hứng!
___________
Biên tập bởi Toong Editorial
Nội dung được đúc kết từ cuộc đối thoại giữa Dương Đỗ và khách mời GS. Chung Hoàng Chương từ chương trình LOXO
Xem trọn vẹn tập Podcast
